SÁP ONG BEES WAX

SÁP ONG LÀ MỘT SẢN PHẨM DÙNG LÀM MỸ PHẨM, THỰC PHẨM AN TOÀN KHÔNG SỢ KÍCH ỨNG, SẢN PHẨM SÁP ONG – BEESWAX ĐƯỢC CAM KẾT HOÀN TIỀN 100% NẾU KHÔNG NGUYÊN CHẤT.
  • Mã SP: VN – 2040
  • Thông số: 5 - 10KG
  • Kích thước: 50x50cm
  • Nhà sản xuất:  Xuất xứ từ: Việt Nam (VN)
  • Hạn sử dụng: 3 năm.
Công dụng của sản phẩm Sáp ong:
– Có thể dùng làm kem dưỡng da
– Làm son môi, kem chống nẻ, trong SPA dùng nến mát xa
– Làm chất phụ gia trong bánh kẹo
– Duy trì và tạo độ ẩm cho bề mặt được phủ sáp
– Cải thiện làn da khô, ráp
– Quy định được dùng trong nhiều nghiên cứu úng dụng mới.
Bảo quản sáp ong beeswax:
– Để ở nơi khô ráo, nhiệt độ từ 20 độ đến 30 độ.
– Chánh ánh nắng mặt trời ( Bị bay màu)
– Xa nơi dễ tiếp xúc với mối, mọt, kí sinh.
Cách dùng sáp ong Beeswax:
– Cắt thành từng miếng nhỏ
– Dùng theo tỉ lệ công thức định sẵn
– Không dùng tiếp xúc trực tiết với lửa
– Có thể đun các thủy, hoạc lò vi sóng.
– Nhiệt độ nóng chảy từ 60 độ đến 80 độ
– Nhiệt độ trên 80 độ sẽ bị cháy
– Dùng kết hợp với các loại tinh dầu như, dầu tràm, dầu oliu, dầu bưởi, cam, Viatmin E, D,A
– Có thể kết hợp pham trộn với các loại màu khoáng, màu thực phẩm tự nhiên.
Ứng Dụng:
– Phụ gia thực phẩm
– Chất tạo độ cứng cho mỹ phẩm
– Chất bảo quản
– Chất đánh bóng.

Sáp ong (tên tiếng anh là Beeswax) là loại sáp tự nhiên được khai thác và sử dụng từ hàng ngàn năm trước, minh chứng cho điều này chính là các nhà khảo cổ đã tìm thấy sáp ong trong các lăng mộ Ai Cập cổ đại, trên xác tàu của người Viking hay trong tàn tích còn lại của đế chế Roman.

Với đặc tính không bao giờ bị hỏng, tan chảy khi đun nóng và tái sử dụng được nên sáp ong được sử dụng làm nguyên liệu chính trong quy trình làm nến. Đến những năm 1800, khi sáp paraffin (một chế phẩm từ dầu mỏ) ra đời thì sáp ong dần bị thay thế. Hiện nay, dù phần lớn nến được làm từ sáp paraffin nhưng đối với những người yêu thích sản phẩm tự nhiên thì nến sáp ong vẫn là lựa chọn số 1 của họ.

Sáp ong - Beeswax:

Sáp ong tổ ong

Như tất cả chúng ta đều biết, sáp ong là loại sáp hoàn toàn tự nhiên 100%. Sáp ong là phần còn lại sau khi mật được ép hết từ tổ ong, do đó sáp ong phân ra làm 2 loại là: sáp ong chưa qua tinh chế và sáp ong đã tinh chế hoàn toàn. – Sáp ong chưa qua tinh chế hình dung đơn giản là: tổ ong vắt hết mật ong —> sáp ong + tạp chất. Tạp chất này có thể gồm phấn hoa, xác ong.. —> loại sáp này chưa thể làm nến được ngay mà nó phải được qua tinh chế. – Sáp ong đã tinh chế hoàn toàn: là loại sáp đã được xử lý hết tạp chất và mật ong còn sót lại trong sáp. Lúc này sáp ong đã sẵn sàng để sử dụng. Sáp ong được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, thực phẩm, mỹ thuật tạo hình… nhưng ở đây chúng ta chỉ nói đến ứng dụng của sáp ong trong quy trình làm nến. Sáp ong làm nến có 2 dạng: dạng hạt và dạng khối. Trong dạng hạt lại có 2 loại: sáp ong trắng và sáp ong vàng. Dạng khối thông thường đều là màu vàng.     Nhìn vào những hình này có thể các bạn sẽ thắc mắc một số vấn đề như: 1. Sáp ong dạng khối và dạng hạt có gì khác nhau (ngoại trừ hình dạng)? Sử dụng loại sáp nào sẽ tốt hơn khi làm nến? Trả lời: Sáp ong dạng hạt và dạng khối về cơ bản là không có gì khác nhau: hoàn toàn tự nhiên 100% và chất lượng là như nhau. Tuy nhiên, tuy nhiên và tuy nhiên tôi khuyên các bạn nên sử dụng sáp ong dạng hạt. Tại sao lại như vậy? Ưu điểm của sáp ong dạng hạt khi làm nến đó là: – Việc định lượng trọng lượng của cây nến dễ dàng hơn thông qua sự định lượng chính xác lượng sáp cần dùng. – Màu của sáp ong dạng hạt đã qua xử lý do đó màu nhạt hơn so với sáp ong dạng khối sẽ giúp bạn đạt hiệu quả màu sắc cho nến theo mong muốn của bạn. Trong khi đó, sáp dạng khối có màu vàng đậm nên việc pha màu sẽ khá khó khăn. Nếu bạn vẫn muốn sử dụng sáp dạng khối thì tôi khuyên bạn nên sắm cho mình một bảng pha màu sắc. – Sáp ong dạng hạt có nghĩa là nó đã qua tinh chế hoàn toàn 100%, không có lẫn bất cứ tạp chất nào. Điều này sẽ làm cho nến có độ tinh khiết cao và chất lượng ánh sáng của ngọn nến ổn định hơn. Tất nhiên tôi không nói rằng sáp dạng khối là không tinh khiết. Sáp ong dạng khối là hoàn toàn tinh khiết nếu bạn mua sáp ong ở những cơ sở sản xuất sáp chuyên nghiệp, có hệ thống lọc đạt tiêu chuẩn. Còn nếu bạn không biết chắc về nơi bạn mua sáp hay bạn muốn tự lọc sáp ong chưa tinh chế (cho an toàn và rẻ hơn) thì xin chia buồn với bạn nến của bạn vẫn cháy nhưng không đạt độ tinh khiết cao và chất lượng ngọn lửa không ổn định. Tại sao như thế? Bởi vì sáp ong này vẫn còn lẫn tạp chất là những cặn bẩn nhỏ (khi bạn lọc sẽ không thấy đâu nhưng khi đôt nến sẽ thấy cặn lưu lại trong nến) và có thể còn một chút mật ong chưa ép hết (tất nhiên là ta không thấy được). Sau khi đọc câu trả lời này có lẽ bạn đã nhận thức được dạng sáp nào là phù hợp nhất với cây nến của mình rồi đúng không. 2. Sáp ong trằng và sáp ong vàng dạng hạt thì khác gì nhau? Trả lời: Sáp ong trắng và sáp ong vàng dạng hạt hoàn toàn không có gì khác nhau, có chăng chỉ là về màu sắc. Sáp ong trắng là sản phẩm của sáp ong sau khi đã tẩy màu. Nó vẫn hoàn toàn tự nhiên 100%, đặc tính của sáp và độ tinh khiết là hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên quá trinh sản xuất phức tạp hơn sáp ong vàng một chút nên giá thành của sáp ong trắng đắt hơn. 3. Tại sao tôi nên làm nến bằng sáp ong?  Trả lời: Tùy theo ý muốn và cảm quan của mình, các bạn có thể sử dụng các loại sáp khác để thay thế. Tuy nhiên làm nến bằng sáp ong có những lợi ích sau: – Sáp ong là sáp tự nhiên 100% do đó nến sáp ong rất an toàn cho người sử dụng, cực kỳ thân thiện với môi trường. – Sáp ong khi cháy tạo ra ion âm do đó khi đốt nến sáp ong giúp thanh lọc, giảm bớt sự ô nhiễm trong không khí. Những kiến thức về sáp ong trên đây ngoài tìm hiều từ nhiều nguồn khác nhau còn là kinh nghiệm từ chính bản thân tôi đúc rút ra. Tất cả kiến thức trên đều mang ý nghĩa tham khảo, chỉ có tự mình trải nghiệm  mới nhận thấy những gì là phù hợp nhất đồi với mình. Tôi rất vui khi nhận được phản hồi của các bạn về bài viết của mình cũng như đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm của các bạn cho tôi và những người khác.
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Quan trọng nhất khái niệm thực phẩm lại tùy thuộc vào mỗi vùng miền mỗi con người. Có những thứ nới này được coi là thực phẩm nhưng nơi khác thì không. Ví dụ: ở phương Tây họ không xem lục phủ ngũ tạng là thực phẩm nhưng người phương Đông lại xem đó là nguồn thực phẩm tuyệt vời. Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền văn minh đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác. Phần lớn các nền văn hóa đều có nghệ thuật ẩm thực. Văn hóa ẩm thực là một tập hợp cụ thể của các truyền thống, thói quen, sở thích, cách thức chọn lựa thực phẩm và tập quán trong nấu ăn. Việc nghiên cứu các khía cạnh của ẩm thực gọi là khoa học về nghệ thuật ẩm thực. Nhiều nền văn hóa đã đa dạng hóa các chủng loại thực phẩm của mình bằng các phương pháp chế biến, nấu nướng và sản xuất. Bên cạnh đó, việc buôn bán các loại lương thực, thực phẩm cũng tạo điều kiện để các nền văn hóa đa dạng hóa hơn nữa các chủng loại thực phẩm của mình. Trong khi con người, về bản chất là động vật ăn tạp, thì tôn giáo và các định kiến xã hội, chẳng hạn như các tiêu chuẩn luân lý, thường có ảnh hưởng tới các chủng loại thực phẩm mà xã hội đó tiêu thụ.

Ngộ độc Botulinum

Do sự có mặt của các nội bào tử của vi khuẩn botulinum trong mật ong, trẻ dưới một tuổi không nên uống mật ong. Hệ tiêu hóa phát triển hơn ở những trẻ lớn hơn và ở người lớn nhìn chung là phá hủy các bào tử này. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh có thể nhiễm độc botulinum từ mật ong nhưng trẻ từ 1 tuổi trở lên thì có thể dùng được. Mật ong y tế có thể được xử lý bằng tia gamma để giảm nguy cơ có mặt của các bào tử botulinum. Bức xạ gamma rõ ràng không ảnh hưởng đến tính kháng khuẩn của mật ong, việc có hoặc không có hoạt tính kháng khuẩn của mật ong phụ thuộc vào việc sinh ra peroxide. Ngộ độc botulinum ở trẻ sơ sinh thể hiện sự biến động theo địa lý. Ở Anh, chỉ có 6 ca được báo cáo trong khoảng 1976 và 2006, trong khi đó ở Hoa Kỳ thì cao hơn với tỉ lệ 1,9 trên 100.000 sơ sinh còn sống, 47,2% là ở California.Dù là tỉ lệ phơi nhiễm mật ong đối với sức khỏe trẻ sơ sinh nhỏ, nhưng không nên xem thường điều này.
Mật ong là hỗn hợp của các loại đường và một số thành phần khác. Về thành phần carbohydrat, mật ong chủ yếu là fructose (khoảng 38,5%) và glucose (khoảng 31,0%). Các carbohydrat khác trong mật ong gồm maltose, sucrose và carbohydrat hỗn hợp. Trong mật ong, các vitamin và chất khoáng chỉ xuất hiện ở dạng vết Mật ong cũng chứa một lượng rất nhỏ các hợp chất chức năng như chất chống ôxy hóa, bao gồm chrysin, pinobanksin, vitamin C, catalase và pinocembrin Bản mẫu:Vague. Thành phần cụ thể của mật phụ thuộc vào hoa mà ong hút mật[10]. Thành phần của mật ong thông dụng.
  • Fructose: 38,2%
  • Glucose: 31,3%
  • Sucrose: 1,3%
  • Maltose: 7,1%
  • Nước: 17,2%
  • Các loại đường có khối lượng phân tử cao hơn: 1.5%
  • Tro: 0,2%
  • Các chất khác: 3,2%
Chỉ số glycemic của mật ong là từ 31 đến 78. Khối lượng riêng của mật ong là 1,36 kg/lít (nặng hơn nước 36%) cũng bởi những cấu tạo đặc biệt về mặt dinh dưỡng trên mà mật ong còn được dùng để điều chỉnh trọng lượng cơ thể khá an toàn. Tuỳ theo cách sử dụng mà mật ong có thể khiến ta béo lên hay gầy đi. Cụ thể, nếu sử dụng mật ong pha với nước ấm (nếu pha với nước nóng thì sẽ làm mất các hoạt chất của mật ong) dùng để uống trước bữa ăn hay uống vào buổi sáng sớm hay thay thế luôn bữa ăn tối thì bạn có thể giảm cân mà không thấy mệt mỏi bởi vì năng lượng được cung cấp bởi mật ong là rất lớn, đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể. Theo một số nhà khoa học thì trong mật ong có chứa những chất giúp đánh tan mỡ và làm giảm tiết dịch vị của dạ dày, khiến bạn không chỉ cảm thấy no lâu mà các mô mỡ cũng bị tiêu diệt một cách âm thầm. Với người muốn tăng cân thì chỉ cần ăn hoặc uống mật ong sau bữa ăn, thì mật ong giúp ăn ngon miệng hơn và do năng lượng lớn nên sẽ làm tăng cân. Tuy nhiên mật ong làm giãn mạch nên trước khi sử dụng mật ong như một thực phẩm lâu dài hay khoái khẩu thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ.  

Mật ong

Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)

Năng lượng

1.272 kJ (304 kcal)

Cacbohydrat

82.4 g

Đường

82.12 g

Chất xơ thực phẩm

0.2 g

Chất béo

0 g

Chất đạm

0.3 g

Vitamin

Riboflavin (B2)

(3%)

0.038 mg

Niacin (B3)

(1%)

0.121 mg

Pantothenic acid (B5)

(1%)

0.068 mg

Vitamin B6

(2%)

0.024 mg

Folate (B9)

(1%)

2 μg

Vitamin C

(1%)

0.5 mg

Chất khoáng

Canxi

(1%)

6 mg

Sắt

(3%)

0.42 mg

Magiê

(1%)

2 mg

Phốt pho

(1%)

4 mg

Kali

(1%)

52 mg

Natri

(0%)

4 mg

Kẽm

(2%)

0.22 mg

Other constituents

Nước

17.10 g


Tính cho 100 g

  • Đơn vị quy đổi
  • μg = microgam • mg = miligam
  • IU = Đơn vị quốc tế (International unit)

Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (US recommendations) cho người trưởng thành.

Source: USDA Nutrient Database

Nhưng điều đáng chú ý là sữa ong chúa chứa hormon và các chất đặc biệt có tác dụng củng cố và tăng cường sức khoẻ con người. Nó là thuốc rất bổ đặc biệt đối với người già, suy nhược, thiếu máu... Có nghiên cứu cho thấy trẻ em ăn nhiều sữa ong chúa sẽ dậy thì sớm hơn so với trẻ em cùng lứa. Sữa ong chúa chứa một tỷ lệ đáng kể của protein, axit amin, lipid, vitamin và đường, và cũng có nhiều giá trị dinh dưỡng và dược lý. Cụ thể, thành phần của nó bao gồm: protein, 22 loại acid amin, lipid (chủ yếu là acid béo 10-DHA), carbohydrate (chủ yếu là đường glucose, fructose), các vitamin (vitamin B1, vitamin B2, vitamin B3, vitamin B5, vitamin B6, vitamin B9,vitamin C, vitamin H, Inositol…) và các chất khoáng (K, Ca, Mg, Cu, Fe, Zn, Se, Li, Ga…). Sữa ong chúa không có các vitamin A, D, E và K. Trong thực tế, các nghiên cứu khoa học đã chứng minh số lợi ích của sữa ong chúa với sức khỏe con người. Tuy nhiên, một số thí nghiệm trong phòng và trên cơ thể người cho thấy:
  • Chất hoạt động làm giãn mạch và làm hạ huyết áp;
  • Chất hoạt động làm giảm cholesterol.
  • Chất chống ung thư.
Những lợi ích của sữa ong chúa với phụ nữ sau mãn kinh cũng được một nghiên cứu lâm sàng Nhật Bản đề cập, vì liên quan đến việc sản xuất estrogen. Tuy nhiên, kiến thức về tác động của loại thuốc trong dài hạn khi sử dụng sữa ong chúa lâu dài với phụ nữ sau mãn kinh, cũng như con người nói chung, vẫn chưa biết được đầy đủ Về những tác động tiêu cực có thể có sức khỏe con người, chỉ có một trường hợp viêm đường ruột liên quan đến tiêu chảy đã được báo cáo tại Nhật Bản vào năm 1997 sau khi dùng sữa ong chúa hàng ngày với liều lượng 10 ml trong vòng 25 ngày trên một người phụ nữ cao tuổi. Trường hợp này, liên quan đến tiêu thụ quá mức của sữa ong chúa, và không hấp thụ được hết.

Sưu tầm: Wikipedia. - Bách khoa toàn thư

Sữa ong chúa là sản phẩm được tiết ra từ hàm của con ong thợ 7 ngày tuổi trở đi để nuôi ong chúa và ấu trùng ong chúa.Ở nhiệt độ thường sữa ong chúa là chất đặc biệt như bơ, màu hơi ngà vàng. Thành phần hoá học của nó rất phức tạp, nó phụ thuộc vào đàn ong, nguồn hoa...

Sưu tầm tại: Wikipedia.

Bách khoa toàn thư.

Mãi là những sản phẩm đi cùng thời gian.
Trong một đàn có ong chúaong đực và ong thợ. Ong chúa có thân dài 20 – 25 mm. Cánh ngắn, kim châm ngắn. Ong đực: thân dài 15 – 17 mm. Không có ngòi châm, cánh lớn. Ong đực chỉ có một tác dụng là giao phối với chúa tơ. Ong thợ: là những con ong cái mà bộ phận sinh dục bị thoái hoá, không có khả năng thụ tinh. Ong thợ thực hiện tất cả công việc của đàn ong: bảo vệ tổ, sản sinh sữa chúa để nuôi ấu trùng, hút mật hoa luyện thành mật ong.
Trong xã hội ong mật, một ít ấu trùng được chọn làm ong chúa và đa số còn lại làm ong thợ. Đối với ong mật, các enzym trong ruột của ong mật có khả năng hóa giải chất độc của loại thuốc trừ sâu thường được sử dụng để diệt ve trong tổ ong mật. Ong mật có lông trên mắt để chúng thu nhặt phấn hoa. Ong có 5 mắt - 3 mắt nhỏ trên đỉnh đầu và 2 mắt to ở phía trước. Một con ong cần phải tìm "4.000 bông hoa để tạo nên đủ một thìa mật ong"
Về thiên địch, ngoài mối đe dọa từ vi rút (là nguyên nhân chính dẫn tới sự suy giảm của loài ong mật) và nấm độc, ong mật Bắc Mỹ còn gặp bị ruồi ký sinh biến thành xác chết biết bay đó là ruồi cái Apocephalus borealis tiêm trứng vào bụng nạn nhân. Ấu trùng ruồi sau khi ăn sạch phần cơ quan ở vùng ngực của ong sẽ đục khoét cơ thể sinh vật này và chui ra ngoài.